Bạc Liêu: một số giải pháp phát triển vùng ven đô
Hiện nay do tiến trình công nghiệp hóa nông nghiệp và đô thị hóa nông thôn ngày càng mở rộng, nên diện tích đất nông nghiệp nói chung, diện tích đất trồng lúa nói riêng ngày càng bị thu hẹp. Tuy nhiên, diện tích đất vùng ven các đô thị ngày càng được mở rộng, giá đất được nâng cao; nếu vẫn nuôi, trồng những giống vật nuôi và cây trồng như cũ thì hiệu quả thấp và rất lãng phí, lại gây ô nhiễm môi trường, ảnh hưởng đến cảnh quan vùng ven đô.
Chính vì những lý do trên, nên cần phải có một định hướng đúng và những giải pháp đồng bộ, phù hợp với từng vùng, từng tỉnh, từng loại đô thị, phù hợp với cơ chế và sự đòi hỏi về số lượng, chất lượng hàng hóa của thị trường địa phương, khu vực và thế giới trong thời kỳ hội nhập kinh tế toàn cầu.
Mục đích của phát triển kinh tế vùng ven đô là tạo vành đai xanh cho đô thị, gắn với dịch vụ, du lịch sinh thái, cung cấp những nông sản có chất lượng cao trực tiếp cho vùng nội ô, sau đó là cung cấp cho thị trường địa phương, khu vực hay xuất khẩu; nhưng không làm ô nhiễm môi trường, không làm ảnh hưởng đến cảnh quan vùng ven đô. Trong lĩnh vực nông nghiệp đối tượng được quan tâm nhất và có hiệu quả nhất là sinh vật cảnh bao gồm các loại hoa, các loại cây cảnh (trong đó quan trọng là Bonsai), cá cảnh, chim cảnh, chó cảnh và làm hòn non bộ, hàng thủ công mỹ nghệ nói chung và đồ lưu niệm nói riêng...
Muốn đáp ứng được mục đích trên, cần phải thực hiện đồng bộ một số giải pháp sau đây:
- Trước hết là chọn đối tượng cây trồng, vật nuôi, ngành hàng phù hợp với từng địa phương, từng tiểu vùng sinh thái, phù hợp với điều kiện đất đai, thời tiết, khí hậu và đặc biệt là nhu cầu của thị trường. Ngành Nông nghiệp và PTNT, mà trực tiếp là tổ chức Khuyến Nông - Khuyến Ngư ở địa phương sẽ phối hợp với Sở Khoa học Công nghệ và các địa phương thực hiện các chương trình, các dự án sản xuất thử nghiệm, các điểm trình diễn TBKT hay sản xuất thử với qui mô nhỏ ở từng tiểu vùng sinh thái qua đó làm cơ sở khoa học để các địa phương và bà con nông dân tham khảo thực hiện.
- Từ nhu cầu của thị trường và khả năng sản xuất của địa phưong (nguồn đất, cơ sở hạ tầng, công nghiệp chế biến, nguồn vốn, kỹ thuật, công nghệ, khả năng dịch vụ vật tư đầu vào và khả năng đáp ứng trong khâu tiêu thụ sản phẩm) mà quyết định qui mô sản xuất của từng loại đối tượng, ngành hàng...
- Từ việc xác định qui mô từng đối tượng cây trồng, vật nuôi, ngành hàng trên mà qui hoạch thành từng tiểu vùng, từng cụm dân cư chuyên sản xuất những mặt hàng đó theo hướng chuyên sâu và công nghệ cao, gắn với công nghệ chế biến, du lịch sinh thái và dịch vụ đầu vào, đầu ra của sản phẩm, gắn kết với khu Nông nghiệp Công nghệ cao của tỉnh; cũng từ đó sẽ đầu tư đồng bộ kết cấu hạ tầng kèm theo.
- Khi đã có qui hoạch cụ thể qui mô, địa điểm sản xuất cho từng đối tượng cây trồng, vật nuôi và ngành hàng sẽ xây dựng phương án sản xuất hay chương trình, dự án để huy động các nguồn lực như nhân lực, vật lực đặc biệt là các nguồn vốn và nguồn nhân lực chất lượng cao, nhất là phát huy tài năng, trí tuệ của các nghệ nhân, trí thức có kiến thức và tay nghề cao ở địa phương hay ở các địa phương khác về dạy nghề cho lao động tại địa phương.
- Về công tác tập huấn kỹ thuật hay dạy nghề cần lưu ý tùy theo đối tượng cây trồng, vật nuôi, ngành hàng mà chọn đối tượng cho phù hợp; nhưng phải dựa trên nhu cầu của người sản xuất và khả năng của họ; bởi vì có những công việc đòi hỏi phải có bàn tay khéo léo của con người như trồng kiểng Bonsai hay là hàng thủ công mỹ nghệ. Phải có lực lượng kế thừa, mang tính chất chuyền nghề cho thế mai sau như vai trò của các nghệ nhân. Trong khi kinh phí hỗ trợ của Nhà nước có hạn, cần thực hiện phương châm “Nhà nước và nhân dân cùng làm”, Nhà nước chỉ hỗ trợ phần tài liệu và giảng viên. Cần phối hợp giữa các ngành, các cấp, các đoàn thể quần chúng trong công tác tập huân và dạy nghề cho nông dân theo hướng gắn lý thuyết với thực hành.
- Việc tổ chức lại sản xuất cũng là khâu quan trọng, cần phải thành lập những tổ, đội, câu lạc bộ những người có cùng sở thích, những Hội nghề nghiệp như Hội sinh vật cảnh, Hội làm vườn, những HTX dịch vụ vật tư đầu vào và thu gom, tiêu thụ sản phẩm đầu ra, hay các doanh nghiệp, các công ty vv...
- Khâu xúc tiến thương mại và tiêu thụ sản phẩm là khâu quan trọng nhất. Trước hết Ngành Công Thương, ngành Văn hóa Thể theo và Du lịch cần phối hợp chặt chẽ với ngành Nông nghiệp và PTNT và các địa phương vùng ven đô tổ chức hệ thống siêu thi, quầy hàng trong khu vực nội ô và liên kết với các tỉnh bạn để tiêu thụ các sản phẩm chất lượng cao cho vùng ven đô, cũng như tổ chức các tua du lịch sinh thái liên tỉnh, tổ chức các Hội thi sinh vật cảnh, các hội chợ hàng nông sản chất lượng cao để quảng bá những mặt hàng có lợi thế của các địa phương và tạo cơ hội liên kết "Bốn nhà".
- Khâu tổ chức quản lý, cấp giấy chứng nhận hàng nông sản chất lượng cao như rau sạch chẳng hạn, cấp chứng chỉ chỉ dẫn địa lý hay EurepGAP, GolobalGAP cho trái cây, thương hiệu hàng nông, thủy sản đặc thù của từng địa phương, chứng chỉ CITES cho sản phẩm động vật hoang dã vv...
- Về phía người sản xuất trước hết phải tự giác tuân thủ qui hoạch, thực hiện tốt qui trình công nghệ đã cam kết, tuân thủ tốt luật pháp Việt Nam và Luật pháp và thông lệ quốc tế trong thời kỳ mở cửa hội nhập kinh tế toàn cầu; nhất là việc giữ chữ tín trong quan hệ giao dịch, đặc biệt là trả vốn và lãi ngân hàng, thực hiện nghĩa vụ trong các hợp đồng kinh tế với các doanh nghiệp hay các tổ chức khác và cá nhân với nhau.
- Muốn thực hiện tốt và có hiệu quả các vấn đề trên cần tiếp tục phát huy vai trò tự quản của cộng đồng, phát huy vai trò của các đoàn thể Chính trị - Xã hội ở địa phương, gắn sản xuất với việc bảo vệ các nguồn tài nguyên thiên nhiên như đất đai, rừng, biển, đảo, động vật hoang dã, bảo vệ nguồn lợi thủy - hải sản, bảo vệ các di tích lịch sử hay các khu bảo tồn, bảo vệ đa dạng sinh học và cân bằng sinh thái; bảo vệ môi trường, bảo vệ an ninh trật tự tại địa phương, thực hiện nếp sống văn minh, hiện đại, lịch sự với các du khách. Có như vậy tiếng lành đồn xa và thương hiệu, tên tuổi của địa phương đó mới vang xa, mới thu hút được khách thập phương tới thưởng ngoạn và qua đó góp phần giải quyết việc làm cho cư dân vùng ven đô nói chung, những nơi có du lịch sinh thái và làng nghề truyền thống nói riêng.
Nếu thực hiện đồng bộ một số giải pháp trên chắc chắn sẽ tạo được vành đai xanh những vùng ven đô, góp phần tạo cho nước ta ngày càng có thêm nhiều đô thị Xanh - Sạch - Đẹp - Văn minh - Hiện đại trong tương lai.
Ts. Nguyễn Xuân Khoa - Giám đốc Trung tâm KN Bạc Liêu





Ninh Bình: Hướng dẫn nông dân phương pháp gieo thẳng chủ động đối phó với thời tiết rét đậm, rét hại gây chết mạ