Cây chè Bát Tiên ở Thanh Sơn
Được đưa về trồng thử nghiệm tại xã Thanh Sơn huyện Sơn Động năm từ năm 2003, qua 5 năm cây Chè Bát Tiên đã dần khẳng định được ưu thế của mình trong việc phát triển kinh tế. Cũng nhờ cây chè Bát Tiên mà đời sống của đồng bào các dân tộc xã Thanh Sơn đã bớt khó khăn hơn trước, nhiều gia đình đã thoát nghèo, trở nên khá giả
Gia đình ông Nguyễn Văn Doanh ở thôn Đông Giang xã Thanh Sơn trồng chè đã đ¬ược gần 30 năm. Nhưng trước đây gia đình ông và bà con trong thôn chỉ trồng giống chè ta hay còn gọi là chè thường. Giống chè thường này có ưu điểm là dễ trồng nên gia đình ông đã tận dụng tối đa các diện tích đồi, bãi ven sông để sản xuất. Từ cây chè mà đời sống của gia đình ông và bà con trong thôn đã ổn định. Thế nhưng 1 vài năm trở lại đây, sản lượng chè xanh có chiều hướng giảm đi, bởi nhiều đồi bãi chè đã trên 30 năm tuổi, cây trở nên cằn cỗi, không còn cho búp đều như trước nữa. Cộng với giá chè khô thấp chỉ khoảng 30-40 nghìn đồng/1kg, mà công đoạn chế biến lại phức tạp khiến cho nhiều gia đình đã chặt bỏ chè để trồng rừng và các loại cây ăn quả khác.
Năm 2003, nắm bắt được nguyện vọng của bà con, Sở Khoa học và công nghệ tỉnh đã kết hợp với Phòng Nông nghiệp huyện Sơn Động triển khai trồng thí điểm 1 ha giống chè mới Bát Tiên tại xã Thanh Sơn. Gia đình ông Doanh là hộ đầu tiên tham gia đăng ký trồng giống chè mới. Ban đầu ông chỉ trồng 1 sào, đến vụ thu hoạch chè Bát Tiên đã cho 80 kg chè khô, với giá bán là 120 nghìn đồng/1kg, gia đình ông đã thu về gần chục triệu đồng, cao gấp gần 4 lần so với chè ta.Ông phấn khởi tâm sự: “Không ngờ chè Bát Tiên lại có giá cao như thế. Nó đã có thể thay thế được giống chè cũ rồi.”
Ngay từ vụ thu hoạch đầu tiên, ông Doanh đã nhận thấy trồng chè Bát Tiên rất đơn giản và dễ trồng. Đất trồng chè có thể tận dụng được tối đa những vùng đất khô cằn, ven sông, bờ suối. Chính vì vậy nên cây chè Bát Tiên cũng rất thích hợp với đất và thỗ nhưỡng ở nơi đây. Đặc biệt là khác biệt lớn nhất của chè Bát Tiên với chè ta đó là giá bán. Trung bình 1kg chè khô ta chỉ có giá từ 40-50 nghìn đồng thì 1kg chè khô Bát Tiên có giá từ 120-150 nghìn đồng, cao gấp từ 3-4 lần. Do vậy, hiệu quả kinh tế từ trồng chè cao hơn hẳn rất nhiều so với các loại cây trồng khác.
Thành công từ việc thử nghiệm giống chè mới của gia đình ông Doanh đã khiến nhiều bà con phấn khởi và học tập trồng chè Bát Tiên, nhiều hộ đã thu được kết quả cao.
Qua tìm hiểu chúng tôi được biết sỡ dĩ chè Bát Tiên có giá cao như vậy là do chè có mùi vị thơm ngon, uống vào có tác dụng thanh nhiệt lại không bị cồn ruột. Đặc biệt là chè Bát Tiên không bao giờ có lắng cặn và không làm mốc, ố, hay vàng chén đĩa. Từ những ưu điểm này mà chè Bát Tiên đã trở thành 1 những món quà biếu, quà tặng được nhiều người ưa chuộng.
Tuy chè Bát Tiên mang lại hiệu quả cao, nhưng đây cũng là 1 loại cây trồng có thân yếu hơn so với chè ta, sức chịu đựng kém nên công chăm sóc cẩn thận và mất nhiều thời gian. Trong khi đó thời gian cho hái búp của chè Bát Tiên cũng lâu hơn chè ta từ 15 đến 20 ngày. Do vậy 1 năm chè Bát Tiên chỉ có thể hái được từ 6- 7 lần, từ đó mà sản lượng cũng thấp hơn so với chè ta. Đây cũng là 1 trong những nguyên nhân dẫn đến lượng chè Bát Tiên vẫn còn khan hiếm trên thị trường.
Thôn Đông Giang là thôn có diện tích chè Bát Tiên lớn nhất xã Thanh Sơn vào khoảng gần 10 ha. Đây cũng là thôn có truyền thống trồng chè ta lâu đời. Thôn có 108 hộ gia đình với 3 dân tộc anh em cùng chung sống. Đời sống của bà con chủ yếu dựa vào sản xuất nông nghiệp trồng lúa và trồng chè. Thế nhưng trước đây bà con chỉ chủ yếu trồng chè để dùng cho sinh hoạt hàng ngày và lấy tiền trang trải do vậy cây chè đã không phát huy được hiệu quả kinh tế, tỷ lệ hộ nghèo của thôn còn tới gần 80%. Chỉ đến khi cây chè Bát Tiên được đưa về trồng ở nơi đây thì cuộc sống của bà con đã có nhiều thay đổi. Hầu như gia đình nào cũng trồng từ 2-5 sào chè Bát Tiên, thu nhập từ 20- 70 triệu đồng/ năm. Do vậy bộ mặt của thôn đã khởi sắc, tỷ lệ hộ nghèo của thôn năm 2007 giảm chỉ còn gần 50%.
Trồng chè tuy đơn giản nhưng khâu thu hái và kỹ thuật sao sấy chè lại lắm công đoạn, đòi hỏi phải đúng kỹ thuật. Để có đ¬ược 1 kg chè khô ngon, bổ thì người chế biến phải làm 7- 8 công đoạn mới hoàn thành, từ việc hái chè, vò chè, ốp chè đến sao chè…Tất cả đều phải được làm theo quy trình và đúng kỹ thuật, nếu làm sai 1 công đoạn thì hương vị chè sẽ vị thay đổi, chất lượng kém. Chính vì vậy nghề trồng chè cũng được coi là 1 nghề khá vất vả. Trước đây, bà con thường sao chè bằng xong, chảo và đảo bằng tay nên không đều chè thường bị đỏ, mà lại mất rất nhiều công sức.
Để giúp nâng cao chất lượng sản phẩm chè Bát Tiên, năm 2007 Trung tâm khuyến công tỉnh Bắc Giang đã đầu tư thực hiện dự án hỗ trợ cho 15 hộ gia đình có diện tích trồng chè lớn nhất xã Thanh Sơn mua máy vò chè và thùng sấy gắn động cơ. Từ dự án này đã giúp bà con tiết kiệm được thời gian, góp phần làm tăng năng suất, chất lượng sản phẩm đáp ứng được yêu cầu ngày càng cao của thị trường. Ông: Nguyễn Quang Sơn- Phó chủ tịch UBND xã Thanh Sơn cho biết: “ Được sự quan tâm của tỉnh đã đưa cây chè giống mới Bát Tiên về trồng mang lại hiệu quả cao. Giờ đây lại đầu tư cho bà con mua máy sấy chè.Điều đó tiếp sức rất lớn cho công cuộc xoá đói giảm nghèo ở địa phương.
Chỉ 5 năm được trồng thí điểm và phát triển, thế nhưng cây chè Bát Tiên đã khẳng định được những ưu thế vợt trội của mình trong việc phát triển kinh tế gia đình. Và với hương vị thơm ngon, đậm đà của mình, cây chè Bát Tiên vẫn luôn chiếm được tình cảm của người tiêu dùng, đóng góp vào công cuộc xoá đói giảm nghèo của huyện vùng cao Sơn Động./.
Khánh Huyền - Đài PT- TH Bắc Giang





Lào Cai: Kinh tế trang trại cần được tiếp sức