Lạng Sơn: Chăn nuôi an toàn sinh học - hướng phát triển bền vững trong thời kỳ hội nhập hiện nay
Trong mấy năm gần đây, tình hình dịch bệnh trên đàn vật nuôi với những diễn biến hết sức phức tạp đã gây ảnh hưởng rất lớn đến ngành chăn nuôi ở nước ta. Thông qua các phương tiện truyền thông đại chúng, cả xã hội đều đã biết đến các loại bệnh nguy hiểm như: Cúm gia cầm; lở mồm long móng trên đàn gia súc; hội chứng rối loạn hô hấp và sinh sản ở lợn (bệnh tai xanh)... và những bệnh nguy hiểm có thể bùng phát, lây lan trên diện rộng bất cứ lúc nào nếu người chăn nuôi lơ là, chủ quan và không có biện pháp quản lý hữu hiệu trong chăn nuôi.
Là tỉnh miền núi biên giới, đồng bào các dân tộc ở Lạng Sơn phát triển chăn nuôi theo quy mô nhỏ lẻ, mang nặng tính chất tự cấp tự túc phục vụ trong gia đình. Nguồn thức ăn trong chăn nuôi chủ yếu vẫn là nguồn nông sản tự túc và các loại phụ phẩm có sẵn trong gia đình. Đến nay, một bộ phận nông dân đã chuyển dần chăn nuôi sang hướng hàng hoá. Tuy nhiên, tình hình chăn nuôi phần lớn vẫn được thực hiện theo phương thức truyền thống chăn thả là chính. Hiện toàn tỉnh Lạng Sơn có tổng đàn gia cầm xấp xỉ 3 triệu con, đàn trâu bò có 216.270 con và 343.299 con gia súc các loại.
Với gần 253 km đường biên giới tiếp giáp với nước bạn Trung Quốc, trong đó có 1 cửa khẩu quốc tế, 2 cửa khẩu quốc gia và 7 cặp chợ đường biên, đồng thời lại có tuyến giao thông thuận tiện nên Lạng Sơn luôn có các hoạt động thông thương diễn ra sôi động… Ngoài tập quán chăn nuôi lạc hậu, Lạng Sơn còn là địa bàn trung chuyển các loại hàng hoá, trong đó có động vật và sản phẩm động vật được vận chuyển với số lượng lớn qua lại trên địa bàn - Đặc biệt nguy hiểm là vài năm gần đây, các loại gia súc, gia cầm nhập lậu từ biên giới đưa vào sâu trong nội địa tiêu thụ diễn ra hàng ngày trên nhiều tuyến đường trong tỉnh. Mặc dù các cơ quan chức năng đã ngăn chặn quyết liệt, nhưng do lợi nhuận nên lượng gia cầm nhập lậu vẫn lọt khá lớn vào nội địa - Đây là mối nguy hiểm tiềm ẩn đe doạ đến nền chăn nuôi trong tỉnh và cả nước nói chung. Nguy hiểm cả về mức độ lây lan, mức độ thiệt hại, bởi rất khó quản lý, kiểm soát khống chế nếu như có dịch bệnh xảy ra…
Chăn nuôi an toàn sinh học (ATSH) chính là phương thức chăn nuôi áp dụng tổng hợp và đồng bộ các biện pháp kỹ thuật nhằm quản lý, ngăn ngừa sự tiếp xúc giữa vật nuôi với mầm bệnh, tạo ra sản phẩm an toàn đối với sức khoẻ cộng đồng và đảm bảo lợi ích kinh tế cho người chăn nuôi. Theo chương trình Khuyến nông Quốc gia, từ năm 2003 đến nay Trung tâm khuyến nông tỉnh đã liên tục xây dựng mô hình trình diễn " chăn nuôi gà an toàn sinh học", mô hình này lần lượt được thực hiện tại các địa phương trong tỉnh. Những nguyên tắc cơ bản của chăn nuôi ATSH đều có thể áp dụng trong chăn nuôi qui mô lớn và cả chăn nuôi qui mô nhỏ. Thực hiện phương thức chăn nuôi ATSH là quản lý đồng bộ tất cả các khâu, từ thiết kế chuồng trại, lựa chọn con giống, thức ăn, phòng bệnh… theo các nguyên tác cụ thể:
Thứ nhất, để hạn chế mầm bệnh thì chuồng trại cần được bố trí xa khu vực nhà ở, tốt nhất là xa khu vực dân cư. Chuồng trại cần được thiết kế thoáng mát về mùa hè, đảm bảo kín ấm vào mùa đông. Có hàng rào ngăn cách nhằm quản lý sự ra vào, tránh sự tiếp xúc với đàn khác hoặc với vật nuôi khác và động vật hoang.
Thứ hai, con giống được mua về nuôi cần đảm bảo có nguồn gốc rõ ràng. Người chăn nuôi nếu tự túc được con giống cũng là biện pháp rất tốt để quản lý dịch bệnh.
Thứ ba, thức ăn sử dụng trong chăn nuôi cũng phải có xuất sứ, nguồn gốc rõ ràng. Thức ăn cần đảm bảo chất lượng, đầy đủ các thành phần dinh dưỡng đáp ứng cho các giai đoạn phát triển (tuổi) của vật nuôi. Trong tình hình giá thức ăn chăn nuôi đang tăng cao như hiện nay, bà con nông dân và người chăn nuôi có thể thực hiện biện pháp tự phối trộn thức ăn chăn nuôi từ nguồn nguyên liệu (ngô, cám, đậu đỗ…) có sẵn trong gia đình. Công thức phối trộn có thể tham khảo từ các tài liệu kỹ thuật hoặc cán bộ kỹ thuật chuyên ngành chăn nuôi.
Thứ tư, tiêm phòng định kỳ (theo lịch) và vệ sinh khu vực chăn nuôi thường xuyên là biện pháp quan trọng quan trọng để ngăn chặn, giảm thiểu nguy cơ xâm nhập của các mầm bệnh vào đàn vật nuôi. Thực hiện công tác theo dõi thường xuyên, khi vật nuôi trong đàn có biểu hiện khác lạ, lập tức đưa ra nuôi cách ly để theo dõi và có biện pháp xử lý thích hợp.
Thứ năm, thực hiện nguyên tắc "cùng nhập, cùng xuất". Tránh tình trạng nuôi gối lứa. Quản lý không để đàn này tiếp xúc với đàn kia. Sau khi xuất chuồng kết thúc một lứa nuôi, cần thực hiện vệ sinh dụng cụ chăn nuôi (máng ăn, máng uống…); chuồng trại và khu vực cần được rắc vôi bột hoặc thuốc khử trùng và để 10 - 12 ngày sau mới tiến hành nuôi lứa khác.
Sau 5 năm liên tục triển khai mô hình chăn nuôi gà ATSH, bà con nông dân và người chăn nuôi khu vực quanh mô hình đã có sự thay đổi nhận thức trong chăn nuôi. Tuy nhiên, để phong trào phát triển trở nên rộng khắp, cần duy trì và mở rộng hoạt động này. Cần có sự phối hợp giữa các cấp ngành chức năng, các tổ chức, đoàn thể xã hội trong việc tuyên truyền, vận động nông dân và người chăn nuôi thay đổi tập quán chăn nuôi, nhằm đáp ứng được các điều kiện về tiêu chuẩn, chất lượng và giá thành trong thời kỳ hàng hoá giao lưu hội nhập hiện nay. Chăn nuôi ATSH cũng là tiền đề tạo cho ngành nông nghiệp nói chung và riêng đối với ngành chăn nuôi có sự bảo vệ và phát triển bền vững./.
Duy Hà - Trung tâm KN Lạng Sơn





Thanh Hoá: Xây dựng vùng sản xuất lạc giống mới năng suất và chất lượng cao