Membership Membership:
Latest New User Latest: Công Tùng
Past 24 Hours Past 24 Hours: 0
Prev. 24 Hours Prev. 24 Hours: 0
User Count Overall: 14
People Online People Online:
Visitors Đang online: 2851
Members Thành viên: 0
Total Tổng số: 39.517.900
Online Now Online Now:
Liên hệ TT KNQG

Hiệu quả nuôi cá lồng bền vững trên sông, hồ vùng Trung du miền núi phía Bắc

Cập nhật: 14/11/2017 10:40

Ngày 10/11/2017, tại thành phố Hòa Bình, Trung tâm Khuyến nông Quốc gia phối hợp với Sở Nông nghiệp và PTNT tỉnh Hòa Bình tổ chức Diễn đàn Khuyến nông @ Nông nghiệp với chủ đề: “Hiệu quả nuôi cá lồng bền vững trên sông, hồ vùng Trung du miền núi phía Bắc”.

Toàn cảnh Diễn đàn

Trong những năm gần đây, nghề nuôi cá lồng, bè trên sông tại một số tỉnh miền Bắc phát triển mạnh, đối tượng nuôi chủ yếu là cá lăng đen, cá rô phi, cá diêu hồng, cá chiên, cá ngạnh… Nghề nuôi cá lồng đã góp phần đáng kể trong việc nâng cao sản lượng và tăng thu nhập, góp phần xóa đói giảm nghèo cho người dân.

Theo thống kê của Tổng cục Thủy sản, diện tích nuôi cá lồng, bè năm 2016 của các tỉnh khu vực Trung du miền núi phía Bắc khoảng 11.643 lồng (tăng trên 50% so với năm 2015); sản lượng đạt 10.837 tấn. Trong đó tập trung nuôi chủ yếu tại Phú Thọ (sản lượng 3.890 tấn, chiếm 35,8%), Sơn La (sản lượng 2.189 tấn, chiếm 20,1%) và Hòa Bình (sản lượng 2.012 tấn, chiếm 18,5%). Tính đến tháng 9 năm 2017, khu vực Trung du miền núi phía Bắc có khoảng 17.733 lồng, sản lượng cá nuôi ước đạt 9.559 tấn.

Các đại biểu tham quan mô hình nuôi cá lồng bè theo VietGAP của gia đình ông Nguyễn Văn Tuyển ở xã Thái Thịnh, TP. Hòa Bình, tỉnh Hòa Bình

Ông Kim Văn Tiêu, chuyên viên cao cấp, Phó giám đốc Trung tâm Khuyến nông Quốc gia đánh giá, nghề nuôi cá lồng bè có ưu thế dễ nuôi, dễ chăm sóc, dễ thu hoạch; đặc biệt cá nuôi lồng bè có chất lượng thịt thơm ngon, không có mùi bùn như nuôi trong ao, năng suất cao gấp 10-20 lần so với nuôi cá ở ao hồ. Tuy nhiên, nghề nuôi cá lồng, bè ở các địa phương vẫn chưa tận dụng và phát huy hết tiềm năng của vùng. Số lượng lồng bè và sản lượng nuôi tăng dần qua các năm nhưng sản phẩm nuôi vẫn chủ yếu phục vụ nhu cầu tiêu dùng nội địa, chưa tạo thành sản phẩm hàng hóa tập trung phục vụ chế biến và xuất khẩu. Người nuôi phát triển một cách tự phát, không theo quy hoạch, chưa có sự liên kết trong sản xuất và tiêu thụ sản phẩm nên dễ bị thương lái ép giá, hiệu quả chưa cao. Bên cạnh đó, môi trường ngày càng ô nhiễm, sự biến động thời tiết do ảnh hưởng của biến đổi khí hậu đã gây ra những thiệt hại không nhỏ cho người nuôi...

Tại diễn đàn, đại biểu đã tập trung thảo luận về các nội dung liên quan đến việc nuôi cá lồng bền vững trên sông, hồ vùng trung du miền núi phía Bắc, trong đó chú trọng đánh giá hiệu quả công tác chuyển giao và nhân rộng mô hình nuôi cá lồng; thực trạng và giải pháp phát triển nuôi cá lồng, bè tại một số địa phương; các tiến bộ kỹ thuật trong nuôi cá lồng (con giống, vật liệu làm lồng bè, thức ăn, chế phẩm sinh học...) nâng cao hiệu quả, đảm bảo môi trường sinh thái...

Đặc biệt, diễn đàn là dịp để nông dân trong vùng được trao đổi, thảo luận cùng các cơ quan quản lý, nhà khoa học, doanh nghiệp về các vấn đề họ quan tâm. Một trong những nội dung được nông dân quan tâm nhất tại diễn đàn là phần trao đổi kinh nghiệm, hướng dẫn phát hiện và phòng trị một số bệnh thường gặp trên cá nuôi lồng, bè. Qua diễn đàn, nhiều ý kiến thảo luận đã được đánh giá cao, gợi mở những giải pháp quan trọng để tháo gỡ khó khăn, tạo thêm động lực thúc đẩy nghề nuôi cá lồng trên sông, hồ phát triển bền vững tại các tỉnh khu vực Trung du miền núi phía Bắc.

Chuyên gia thủy sản Nguyễn Thị Hà - Viện Nghiên cứu Nuôi trồng thủy sản I giải phẫu mẫu cá bệnh do nông dân mang đến diễn đàn, hướng dẫn cách phát hiện và phòng trị bệnh trên cá

Phát biểu kết luận tại diễn đàn, ông Kim Văn Tiêu đề nghị:

- Bộ Nông nghiệp và PTNT: Tăng cường quản lý chất lượng con giống, cơ sở sản xuất giống để có con giống chất lượng cao cho nông dân nuôi hiệu quả. Tăng cường quản lý thuốc thú y, chế phẩm sinh học, chất xử lý cải tạo môi trường tốt hơn.

- Các viện nghiên cứu: Tập trung nghiên cứu, ứng dụng công nghệ để tạo ra các giống cá mới có chất lượng cao, sức đề kháng tốt, sạch bệnh, tiến tới kháng bệnh, nhanh lớn, hệ số thức ăn thấp, thịt thơm ngon, thị trường ưa chuộng.

- Các chi cục thủy sản, chi cục thú y, chi cục quản lý chất lượng: Quản lý chặt chẽ cá giống lưu hành trên thị trường và cơ sở sản xuất con gống; quản lý chặt chẽ thuốc thú y, chế phẩm sinh học,… Thực hiện tốt quy hoạch nuôi cá lồng trên địa bàn, hướng dẫn người dân phòng chống thiên tai kịp thời và hiệu quả. Quản lý chất lượng cá thương phẩm sản xuất và lưu hành trên thị trường.

- Trung tâm khuyến nông các tỉnh và các doanh nghiệp: Tập trung xây dựng các mô hình nuôi cá lồng đạt hiệu quả cao theo hướng an toàn thực phẩm gắn với thị trường với phương châm một người làm, ngàn người biết, trăm hộ học tập làm theo; đồng thời đẩy mạnh đào tạo, tập huấn nâng cao kiến thức nuôi trồng thủy sản cho cộng đồng người nuôi theo phương pháp cầm tay chỉ việc.

- Nông ngư dân: Tăng cường tham quan học hỏi, trao đổi giữa nông dân với nông dân, giữa nông dân với đơn vị chuyển giao, giữa nông dân với doanh nghiệp, giữa nông dân với chuyên gia để chia sẻ thông tin về khoa học kỹ thuật, kinh nghiệm sản xuất, thị trường...; mạnh dạn áp dụng tiến bộ kỹ thuật vào sản xuất; thực hiện liên kết sản xuất hình thành các nhóm, tổ hợp tác để hỗ trợ nhau cùng phát triển và tăng sức cạnh tranh cho sản phẩm…làm từ nhỏ đến lớn; trong quá trình làm phải ghi chép nhật ký để truy xuất nguồn gốc sản phẩm và hạch toán hiệu quả kinh tế, đồng thời rút kinh nghiệm cho vụ sau.

- Các cơ quan báo chí trung ương và địa phương: Đẩy mạnh thông tin tuyên truyền các mô hình hiệu quả, an toàn thực phẩm, các hộ dân nuôi đạt hiệu quả kinh tế cao, liên kết sản xuất tốt,… để nhiều hộ, nhiều tỉnh biết đến học tập và làm theo.

Ông Kim Văn Tiêu - PGĐ TTKNQG phát biểu tại diễn đàn

  Diễn đàn Khuyến nông @ Nông nghiệp “Hiệu quả nuôi cá lồng bền vững trên sông, hồ vùng Trung du miền núi phía Bắc” được tổ chức trong bối cảnh Bộ Nông nghiệp và PTNT chỉ đạo thực hiện 8 giải pháp “đột phá” đẩy mạnh tái cơ cấu ngành nông nghiệp đến năm 2020: Tiếp tục quán triệt, tuyên truyền nâng cao nhận thức và tạo sự thống nhất; Tập trung nghiên cứu, hoàn thiện cơ chế, chính sách; Rà soát, điều chỉnh chiến lược, quy hoạch, quy mô và cơ cấu sản xuất phù hợp với lợi thế, nhu cầu thị trường và thích ứng với biến đổi khí hậu; Tiếp tục đổi mới và phát triển các hình thức tổ chức sản xuất gắn với thị trường (hợp tác xã, tổ hợp tác, doanh nghiệp nông nghiệp); Tăng cường nghiên cứu, chuyển giao và ứng dụng khoa học công nghệ; Đẩy mạnh hội nhập kinh tế quốc tế, phát triển thị trường; Tiếp tục huy động các nguồn lực để phát triển kết cấu hạ tầng; Đẩy mạnh cải cách hành chính, cải thiện môi trường đầu tư kinh doanh, tăng cường đào tạo và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực.   

 

Thu Hằng - Ánh Nguyệt

Scroll