vi-VNen-US


Khuyến nông Hải Phòng trên đường phát triển
Updated at:  16:45 24/01/2013


Ngày 31/5/1994 UBND thành phố Hải Phòng đã ban hành Quyết định số 408/QĐ-TCCQ thành lập Trung tâm Khuyến nông Hải Phòng. Ngày 25/4/1995, thành lập Trung tâm Khuyến ngư theo Quyết định số 517/QĐ-TCCQ của UBND thành phố. Năm 2009, sáp nhập hai Trung tâm nói trên thành Trung tâm Khuyến nông Khuyến ngư Hải Phòng theo Quyết định số 1081/QĐ-UBND, ngày 09/6/2009.

 

Trung tâm hiện có 06 phòng chức năng: Phòng Hành chính tổ chức; phòng Chuyển giao kỹ thuật Nông nghiệp; phòng Chuyển giao kỹ thuật Thuỷ sản; phòng Đào tạo và Thông tin tuyên truyền và phòng Tư vấn và giới thiệu sản phẩm; phòng Kế hoạch Tài chính. Tổng số cán bộ khuyến nông của tỉnh: 240 cán bộ; tổng số Trạm khuyến nông: 07 trạm; tỷ lệ % cán bộ có trình độ từ cao đẳng trở lên chiếm 73%.

 

Trong những năm qua hoạt động khuyến nông của tỉnh đã phát triển mạnh mẽ, đạt những kết quả đáng ghi nhận:

 

Về thông tin, đào tạo: Đã thực hiện chuyển giao tiến bộ kỹ thuật và công nghệ mới cho trên 10 triệu lượt nông dân ứng dụng vào sản xuất nông nghiệp đạt hiệu quả cao.

 

Phối hợp với Đài Phát thanh và truyền hình Hải Phòng thực hiện hàng trăm chuyên mục hướng dẫn kỹ thuật sản xuất cho nông dân trên truyền hình và sóng phát thanh, bình quân mỗi năm 11-12 chuyên mục, tăng 7,6 % chuyên mục /năm và số người xem tăng 6,6%/năm. Duy trì xuất bản thông tin khuyến nông, số lượng ấn phẩm tăng 13,67%/năm; bình quân lượng thông tin khuyến nông tăng 11,2%/năm.

 

Các mô hình khuyến nông

 

Về lĩnh vực trồng trọt

 

Giai đoạn 1994 -1998, ngay sau khi có quyết định 408/QĐ-TCCQ thành lập Trung tâm Khuyến nông, hoạt động khuyến nông đã tập trung vào việc chỉ đạo thực hiện chương trình cấp 1 hoá giống lúa, với tổng diện tích gần 1000 ha, mỗi vụ cung cấp cho sản xuất đại trà 3.000 - 3.500 tấn giống. Xây dựng ở mỗi huyện 100 -150 mô hình thâm canh lúa theo quy trình sản xuất tiên tiến phục vụ cải tiến cơ cấu trà lúa theo hướng tăng tỷ lệ diện tích trà xuân muộn trong vụ Đông Xuân và tăng tỷ lệ diện tích trà mùa trung và mùa sớm trong vụ mùa tạo điều kiện mở rộng diện tích trồng cây vụ Đông.

 

Giai đoạn sau 1998, tập trung chỉ đạo áp dụng công nghệ sản xuất hạt giống lúa lai F1 với hàng chục tổ hợp lai có quy mô 500-600 ha giúp nông dân chủ động giống lúa lai chất lượng tốt, giá rẻ hơn 30% so với giống nhập nội đã mở rộng diện tích gieo cấy giống lúa lai trên 20% diện tích; đồng thời xây dựng hàng nghìn mô hình khuyến cáo nông dân mở rộng diện tích gieo cấy các giống lúa chất lượng cao như: Bắc thơm số 7, HT1; tổ hợp lúa lai chất lượng HYT, Bồi tạp Sơn thanh, Việt lai 20, HT1; phục tráng giống lúa thơm của địa phương như di, dự, nếp cái hoa vàng…. mang lại thu nhập gấp 1,3 - 1,5 lần so với lúa thường.

 

Bên cạnh cây lúa, các giống ngô mới có tiềm năng năng suất cao như LVN20, Pacific 11, LVN99, HQ2000 cũng được khuyến cáo và hướng dẫn mở rộng trong sản xuất vụ đông đạt bình quân 1000 ha/vụ.

 

Ngoài ra, đã triển khai một số dự án "Xây dựng mô hình vùng rau an toàn vệ sinh thực phẩm"; trồng rau công nghệ cao quy mô gần 1 ha trong nhà kính và 4 ha ngoài đồng ruộng do Trung tâm Giống và Phát triển nông lâm nghiệp công nghệ cao thực hiện. Kết quả hàng năm đã có 2.500-3.000 tấn rau được kiểm soát chất lượng đảm bảo theo tiêu chuẩn có độ an toàn cao phục vụ nhu cầu tiêu dùng của nhân dân.

 

Mô hình trồng rau, dưa bằng phủ bạt plastic diện tích 0,5 ha (1998) đến nay có gần 500 ha trồng rau và dưa áp dụng phủ bạt, giá trị sản xuất đạt 400-500 triệu đồng/ha/năm. Mô hình trồng khoai tây giống mới trẻ sinh lý sạch bệnh của Đức, Hà Lan, Mỹ…thay thế một số giống cũ của địa phương đã thoái hoá đạt hiệu quả cao. Từ năm 2000 đến nay, đã sản xuất và bảo quản gần 1.000 tấn giống khoai tây mỗi vụ trong kho lạnh, đồng thời xây dựng gần 100 mô hình thâm canh, hướng dẫn quy trình kỹ thuật trồng khoai tây giống mới, kỹ thuật cao, sạch bệnh giúp nông dân mở rộng quy mô sản xuất 1.000-1.500 ha/vụ, đưa năng suất khoai tây từ 9-10 tấn/ha (năm 2000) lên 20-25 tấn/ha (năm 2012).

 

Các giống cà chua mới như: VL2910, VL2922, TN52, TN129, PT18… được tiếp thu và áp dụng quy trình kỹ thuật gieo trồng thử nghiệm với quy mô 30-50 ha/năm, năng suất đạt 50-70 tấn/ha, từng bước hình thành vùng sản xuất cà chua nguyên liệu đáp ứng nhu cầu chế biến, xuất khẩu.

 

Các loại rau màu như hành tỏi, ớt, nấm rơm, nấm sò, mộc nhĩ... cũng được triển khai mạnh mẽ và được nông dân hăng hái tiếp thu mở rộng tạo việc làm cho người lao động với mức thu nhập cao.

 

Những năm gần đây hoạt động khuyến nông đã tập trung hướng dẫn chuyển giao công nghệ mới như: nuôi cấy mô, tách mầm trong nhân giống, sử dụng kích thích sinh trưởng, dùng ánh sáng đèn điện, trồng hoa trong nhà lưới, khôi phục các làng hoa truyền thống đồng thời hỗ trợ nông dân tiếp thu các giống hoa mới như lay ơn đỏ đô Pháp, lay ơn tím cẩm Hà Lan, loa kèn, Lyly, phong lan hồ điệp, hoa hồng, hoa cúc... nâng tổng diện tích trồng hoa chuyên canh toàn thành phố từ 200 ha (năm 2000) lên trên 700 ha (2012), hầu hết diện tích này đều đạt giá trị sản xuất từ 300 triệu đồng/ha/năm trở lên.
Chương trình khuyến nông hỗ trợ vốn, kỹ thuật xây dựng mô hình vườn ươm giống cây ăn quả quy mô hộ để phục tráng các giống cây ăn quả đặc sản ở địa phương như cam Đồng Dụ, quýt Gia Luận, bưởi Lâm Động, sản xuất các giống cây ăn quả quý như nhãn Hương Chi, nhãn lồng Hưng Yên, xoài Thái Lan... đã cung ứng gần 2 triệu cây giống các loại để cải tạo 1.800 ha vườn tạp được thay thế các giống cây trồng mới.

 

Nhờ các hoạt động khuyến nông chuyển giao tiến bộ kỹ thuật, công nghệ tiên tiến, cung ứng các giống lúa, ngô, khoai tây, rau màu, hoa, cây ăn quả các loại vào sản xuất, đã thúc đẩy mạnh mẽ quá trình chuyển dịch cơ cấu cây trồng, cơ cấu mùa vụ, mở rộng diện tích luân canh 3-4 vụ/năm, năng suất lúa đạt 114,54 tạ/ha (năm 2008), 122,19 tạ/ha (năm 2011) tăng bình quân 1,4-1,8%/năm; sản lượng lương thực tăng 17,9% đạt 480.000-520.000 tấn/năm, đảm bảo an ninh lương thực trong điều kiện đất canh tác giảm dần 5.000 ha. Năng suất rau màu tăng 3,2-4,5%/năm, đến nay giá trị sản xuất trên đất canh tác toàn thành phố đạt khoảng 70 triệu đồng/ha/năm, trong đó có 18.000 ha đạt trên 80 triệu đồng/ha/năm và 3.500 ha đạt trên 100 triệu đồng/ha/năm.

 

Về lĩnh vực chăn nuôi

 

Tập trung vào việc nâng cao chất lượng và tổng đàn gia súc, gia cầm: Đàn bò được cải tạo theo chương trình sind hóa, Zêbu hoá, hàng năm số bê lai sinh ra đạt trên 1.000 con/năm, từ năm 2002 đến nay hầu hết số bê sinh ra đều là bê lai. Kết hợp với chuyển giao tiến bộ kỹ thuật và chăm sóc, nuôi dưỡng, tầm vóc bò tăng nhanh, giá trị làm lợi cho các hộ nông dân hàng chục tỷ đồng.

 

Chương trình chăn nuôi lợn đã hỗ trợ nông dân về giống, thức ăn, thuốc thú y và hướng dẫn quy trình kỹ thuật, xây dựng các điểm vùng nhân giống, tuyển lựa, bình chọn được hàng chục nghìn con lợn nái móng cái thuần chủng; F1,2 nái lai.

 

Đàn gia cầm phát triển theo hướng chuyên thịt, chuyên trứng, kiêm dụng vừa khai thác tốt điều kiện tự nhiên kết hợp kỹ thuật tiên tiến đảm bảo tính an toàn, bền vững thu nhập cao. Đã hỗ trợ hàng trăm nghìn con giống ngan, gà, vịt tới các hộ nông dân tiếp thu. Mô hình gà gi lai từ một hộ đến nay đã phát triển trên 10.000 trang trại gia trại và hộ gia đình.

 

Toàn thành phố đã xây dựng 16 vùng chăn nuôi tập trung phát triển chăn nuôi theo hướng GAHP, đến nay toàn thành phố đã có gấn 500 hộ chăn nuôi đạt tiêu chuẩn việt GAHP theo tiêu chí ngành; đồng thời phát triển mở rộng vào sản xuất đại trà các giống vật nuôi khác như thỏ Newzeland, dê bách thảo, ong, nhím...

 

Chương trình chăn nuôi đã gắn với phát triển khi sinh học, công tác khuyến nông đã tư vấn và tham mưu để hỗ trợ xây dựng trên 6000 công trình quy mô hộ (<50 m3/1 công trình) và trang trại (hàng nghìn m3/1 công trình); ứng dụng toàn diện Khí sinh học vào đời sống như: đun bếp, thắp sáng, tạo nguồn phân bón hợp vệ sinh, chạy máy phát điện...

 

Những năm qua, hoạt động khuyến nông chăn nuôi đã thu hút hàng trăm nghìn hộ nông dân tham gia, thiết thực góp phần thúc đẩy ngành chăn nuôi thành phố phát triển toàn diện. Tổng đàn bò tăng nhanh, tốc độ tăng bình quân 15,5%, sản lượng thịt bò tăng 400 tấn/năm, làm lợi cho nông dân hàng chục tỷ đồng; đàn lợn tăng 6%/năm; tăng 9,3%/năm. Phát triển chăn nuôi đi đôi với bảo vệ môi trường, đảm bảo an toàn vệ sinh thực phẩm.

 

Về lĩnh vực khuyến ngư

 

Hướng vào các đối tượng mới, năng suất cao và có giá trị kinh tế như nuôi cá song, cá giò, ngao, cá vược, cá bớp, cá hồng mỹ cho nông dân, ngư dân, đặc biệt là với cộng đồng ngư dân ven biển theo hướng bán thâm canh, thâm canh tăng năng suất và bảo vệ môi trường.

 

Mặt khác, thông qua kết quả các đề tài nghiên cứu đã được Trung tâm triển khai ra diện rộng như, nuôi cá trắm cỏ bằng cỏ VAO6 thay thế cho nguồn thức ăn rau muống, bèo, cỏ dại; sinh sản nhân tạo và nuôi thương phẩm cá rô đồng đầu vuông; nuôi xen canh cá rô phi đỏ trong ao nuôi thủy sản nước lợ. Những đối tượng nuôi được chuyển giao nông ngư dân từng bước được tăng cường, làm đa dạng hóa các đối tượng nuôi như cá bớp, điêu hồng, cá vược, cá song trong ao đất, tôm thẻ chân trắng, ốc bươu... tăng năng suất và hiệu quả trên một đơn vị diện tích nuôi trồng thủy sản. Cụ thể, cá rô phi năng suất đã tăng từ 3- 4 tấn/ha lên 12-16 tấn/ha; cá bớp chỉ từ vài trăm kilogram/ha lên 2 tấn/ha; tôm chân trắng đạt trên 10- 15 tấn/ha; rô đồng đạt trên 11 tấn/ha…

 

Khuyến khích nghiên cứu các công cụ khai thác có chọn lọc để tăng năng suất lao động, tăng sản lượng, bảo vệ nguồn lợi như, chụp mực, lưới rê cải tiến, khai thác ghẹ bằng lồng...đã mang lại những hiệu quả thiết thực đối với ngư dân Hải Phòng.

 

Về lâm nghiệp

 

Thông qua việc xây dựng mô hình 150 ha sản xuất nông lâm kết hợp đã chuyển giao các giống cây trồng mới như trám trắng, keo tai tượng... giúp các hộ nông dân mở rộng sản xuất thêm 1.000 ha theo hướng nâng cao giá trị sản xuất trên đất đồi dốc, chống xói mòn, tạo cảnh quan đẹp, môi trường sinh thái bền vững.

 

Trên đất vườn, đất bãi ven sông đã triển khai 105 ha trồng tre Lục Trúc, Bát Độ vừa khai thác sản phẩm măng tre làm thực phẩm vừa có tác dụng phòng hộ ven sông.

 

Trải qua 20 năm hình thành và phát triển, khoảng thời gian không dài, tuy nhiên công tác khuyến nông đã đóng góp phần quan trọng cho việc phát triển kinh tế xã hội cho tỉnh nhà.

 

Đánh giá tổng kết 20 năm thành tựu, những khó khăn hạn chế của hệ thống khuyến nông; đồng thời cần đề xuất đổi mới về hệ thống tổ chức, cơ chế chính sách và phương pháp hoạt đông khuyến nông nhằm tạo ra những chuyển biến về chất trong hoạt động để hệ thống khuyến nông cả nước ngày càng có vai trò to lớn hơn trong sự nghiệp công nghiệp hoá hiện đại hoá nông nghiệp nông thôn.

 

TTKNKN Hải Phòng


Visitors:
36257346

 

Detail

 

 

 

 

 

 

© Copyright NATIONAL CENTER FOR EXTENSION
License No. 194/GP-BC the Ministry of Culture - Information on 10-7-2006
Address: No. 16 Thuy Khue Street, Tay Ho district, Hanoi  Email: tthlknqg@gmail.com

Website best viewed in resolution: 1024x786 pixels

Developed by: NEVICO